Phía Tây không có gì lạ


“Thế hệ mất mát”, hay những ám ảnh kinh hoàng thời hậu chiến?

Nói đến những tác phẩm lấy chiến tranh làm chủ đề, có lẽ các anh chị không khó khăn gì để có thể kể tên ra một vài tác phẩm hay, ngay tại Việt Nam cũng có một tác phẩm luôn được xếp hạng kiệt tác, đó là “Nỗi buồn chiến tranh” – còn có nhan đề Thân phận của tình yêu – của nhà văn Bảo Ninh. Nhưng, nếu xét trên bình diện thế giới, thì cho đến nay chỉ có nhõn hai nhà văn viết về đề tài chiến tranh mà tôi cho rằng hoàn hảo tuyệt vời hơn cả, người đầu tiên là Ernest Hemingway, người còn lại, tất nhiên, chính là Erich Maria Remarque. Hai con người này đặc biệt ở chỗ, họ đều là những người lính tham chiến trong Đệ nhất Thế chiến – dù ở hai đầu chiến tuyến – sống sót và trở về, luôn đau đáu nhớ nghĩ về khoảng thời gian kinh hoàng, khốc liệt mà họ đã cùng chứng kiến, cùng trải qua. Họ là những con người thuộc về “thế hệ mất mát” (hay còn gọi là “thế hệ bỏ đi”), và họ chọn sáng tác để chia sẻ nỗi ám ảnh của họ với toàn thế giới. Cầu chúc cho linh hồn họ mãi mãi an nghỉ nơi vĩnh hằng.

Phía Tây không có gì lạ - Erich Maria Remarque

Phía Tây không có gì lạ – Erich Maria Remarque

 ***

E. M. Remarque (1898-1970), tên thật là Erich Paul Remarque. Ông sinh ra trong một gia đình Công giáo La Mã tại Osnabruck, thuộc tỉnh Westphalia, miền Tây nước Đức. Năm 18 tuổi, Remarque đăng lính và tham gia vào Đệ nhất Thế chiến, được phân về Sư đoàn Quân dự bị. Tháng 06/1917, Remarque bị điều chuyển đến một đơn vị Công binh ở Mặt trận phía Tây. Cái chết của những đồng đội bị thương nhưng không được nhìn ngó đến đã khiến cho nội tâm anh lính trẻ sụp đổ hoàn toàn. Sau một thời gian, Remarque cũng bị thương vì mảnh đạn. Nhà văn đã học được một bài học cay đắng khi nhận ra “chủ nghĩa yêu nước” có thể sẵn sàng bỏ qua bất cứ một cá nhân nào. Với Remarque và nhiều cựu chiến binh khác, “trách nhiệm công dân” không còn có ý nghĩa gì nữa.

Ngày 23/01/1929, một cuốn tiểu thuyết với nhan đề lạnh lùng: “Phía Tây không có gì lạ” được xuất bản tại Đức, tác giả ký tên Erich Maria Remarque, và ngay lập tức trở thành hiện tượng, nước Đức đón nhận nó như là “bản di chúc của tất cả những người đã ngã xuống trên chiến trường”. Tại Anh, Mỹ… tác phẩm còn được đón nhận nồng nhiệt hơn. Ba năm sau, cuốn sách đã được dịch ra 29 thứ tiếng và nhiều nhà phê bình máu mặt đã không tiếc lời ca tụng nó như là “cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất viết về Đệ nhất Thế chiến”.

Vậy nội dung của nó có gì mà hoành tráng thế? Thực sự, những người yếu bóng vía thì không nên đọc nó, vì tràn ngập trong cuốn tiểu thuyết là những trường đoạn đầy bạo lực và chết chóc, sức kích động rất khó lường. Nhưng hỡi ôi, thực tế chiến tranh là vậy, thay đổi nhẹ nhàng đi cũng không được. Dưới lăng kính của Remarque, chiến tranh chỉ là những cái chết ghê rợn và sự dửng dưng. Bác sĩ quân y có thể cho chuyển ngay những thương binh nặng xuống nhà chứa xác mà không cần xem xét. Một người đồng đội chết đi, người còn lại sẽ háo hức lột đôi giầy ra và đi vào chân mình với vẻ hớn hở… Họ có đáng trách không? Không, khi đối diện với cái chết thường xuyên, con người ta buộc phải chai sạn đi, buộc phải thích nghi, thích nghi một cách đau đớn.

Ở trong “Phía Tây không có gì lạ” hoàn toàn không đề cập đến chủ nghĩa anh hùng, nó chỉ có sự may rủi trên chiến trường. Bạn trở về sau mỗi đợt giao chiến với phe địch, sống sót và nguyên vẹn đều là do may mắn, hoàn toàn không phải sự dũng cảm, mưu trí hay bạn đã chiến đấu như một người hùng. Không hề có hình ảnh những người hùng hay các chiến binh dũng cảm trong cuốn sách của Remarque. Khi tòng quân, họ chỉ là những người lính tầm thường, nhưng khi ra đến mặt trận họ bỗng trở nên một thứ nửa người nửa ngợm, nhân tính còn lại chẳng bao nhiêu, mà chủ yếu là
bản năng thú vật lấn át do nỗi sợ hãi cái chết gây nên. Bản năng thú vật đã thức dậy, dẫn dắt và bảo vệ họ khỏi tầm chết chóc khi nghe tiếng gầm của trọng pháo. Họ lao mình xuống hố, nằm rạp xuống đất tránh những mảnh đại bác tóe ra. Phản ứng đó hoàn toàn bản năng và hầu như không bị ý thức chi phối.

Nhưng, những người lính trong tác phẩm này không hoàn toàn vô tội, họ là nạn nhân của chiến tranh cũng đồng thời là những kẻ sát nhân. Họ rút chạy vẫn không quên gài lại hàng hàng lớp lớp những bãi mìn đã đập kíp, và súng máy vẫn say sưa nhả đạn về phía đối phương. Họ chống lại thần chết bằng cách giết chóc, vì trên chiến trường, họ không giết đối phương, đối phương sẽ không để họ sống, chân lý là vậy.

Trong lời đề từ ở đầu sách, Remarque đã viết, đại ý rằng đây chỉ là một cuốn tiểu thuyết, một câu chuyện kể chứ không phải một bản cáo trạng, nhưng rõ ràng, “Phía Tây không có gì lạ” còn hơn cả một bản cáo trạng. Vì thực ra, khi ông đề cập đến sự phi nhân tính của chiến tranh, thì đồng thời ông cũng khắc họa nên cái khía cạnh nhân tính sâu sắc nhất, khiến cho độc giả luôn phải căng ra giữa hai cực dù chẳng cần đặt bất cứ câu hỏi nào. Con người đã bị chiến tranh hủy hoại khốc liệt và tan nát toàn bộ cả thể xác lẫn linh hồn.

(Hình ảnh được cung cấp bởi Cửa hàng trưởng Đông A tại Đường sách Nguyễn Văn Bình, cô Phạm Bích Thơm, tấm hình rất đẹp, xin chân thành cảm ơn cô. Chúc cô và Đông A luôn giới thiệu sách hay đến nhiều đối tượng độc giả!)

Trần Hùng

—–——————————

Review PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ (ALL QUIET ON THE WESTERN FRONT) – Erich Maria Remarque

Thể loại: Tác phẩm kinh điển

Quốc gia: Đức

Người dịch: Vũ Hương Giang

“Cuốn sách này không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời thú tội. Nó chỉ cố gắng kể về một thế hệ đã bị chiến tranh hủy hoại – cho dù họ đã thoát khỏi đạn pháo chiến tranh”.

Tôi đọc được câu đề tựa này ở những trang đầu của “Phía tây không có gì lạ” – tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Erich Maria Remarque, đánh dấu sự hiện diện của ông trên văn đàn thế giới, biến ông trở thành tượng đài của nền văn học Đức. Và cũng chính tác phẩm này đã tước đi quyền công dân của ông, khiến ông từ một nhà văn, một người lính trở thành kẻ cả đời lưu vong nơi đất khách.

Truyện lấy bối cảnh Thế chiến thứ I, kể về một tốp lính Đức gồm đa số là những thanh niên 18,19 tuổi, “từ lớp học đi thẳng vào cuộc chiến”. Xuyên suốt phần đầu tác phẩm, tôi không hình dung ra hình ảnh những người lính oai vệ, mặc quân phục, vai đeo súng trong tư thế trang nghiêm, trái lại những gì xuất hiện trong đầu tôi là một đám nhí nhố, phá phách, chẳng khác gì tôi và lũ bạn thời cấp 3. Qua sự miêu tả của tác giả, tôi như cảm nhận rõ từng đường nét non nớt trên cơ thể họ, trên gương mặt họ. Tôi tự hỏi: những con người này sao có thể đánh trận được?

Nhưng tôi đã lầm, mặt dù mang bên ngoài nét trẻ trung của tuổi đôi mươi, nhưng tâm hồn họ đã bắt đầu già cỗi, kể từ cái thời khắc họ chứng kiến những người đồng đội đầu tiên ngã xuống, ngay bên cạnh mình. Khó có thể nhận biết dấu vết của thời gian in hằn trên cơ thể, trên gương mặt họ chỉ sau vài tháng ngoài tiền tuyến, nhưng quãng thời gian kinh hoàng đó đủ dài để bào mòn tâm hồn non nớt của họ, khiến chúng dần trở nên chai sạn, già cỗi. Chiến tranh biến họ thành những con thú, buộc họ phải bắn giết lẫn nhau, ban đầu là vì tinh thần dân tộc, về sau là để khỏi phải chết. Giết, hoặc bị giết, quy luật của chiến tranh đơn giản chỉ là thế.

“Lúc lên đường, chúng tôi là những anh lính gắt gỏng, vui tính. Khi đi vào vùng bắt đầu có mặt trận, chúng tôi là những con người mang bản năng của loài thú”

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, tha thiết, không hề cầu kỳ, sướt mướt, Remarque mô tả lại một cách chân thực, sống động đến từng chi tiết cái quang cảnh địa ngục trần gian ấy. Những thây người mất chân tay, mất đầu, thậm chí mất nửa người, những kẻ hấp hối khi bị đạn, pháo phạc đứt hai bàn chân, quật nát xương hông, bắn vỡ bụng đến nỗi từng khúc ruột trào cả ra ngoài, vẫn cố lê lết, bám víu vào từng hơi thở thoi thóp với hy vọng duy nhất là được sống, là ngày mai lại được nhìn thấy bình minh. Những bệnh viện dã chiến tràn ngập xác chết, những tiếng gào thét ghê rợn vì đau đớn, vì hoảng loạn khi thấy những thân thể nát bươm của đồng đội, hay của chính bản thân mình. Tiếng bom đạn, súng trường, súng cối, tiếng máy bay oanh tạc không ngơi nghỉ, tất cả tạo nên một bầu không khí tràn ngập sợ hãi, hỗn loạn. Thế nhưng, thật kỳ lạ, xen giữa khung cảnh u ám ấy lại là những bức tranh êm đềm, thư thái, nơi những người lính ngồi lại bên bếp lửa, cùng nhau nấu con ngỗng vừa bắt trộm được, cùng nhau ăn, cùng nhau uống rượu, hút thuốc, rồi cùng nhau tán gẫu, kể cho nhau nghe những câu chuyện đời thật bình dị. Những thời khắc tĩnh lặng quý báu ấy, qua ngòi bút thần kỳ của Remarque, như phần nào xoa dịu thần kinh của độc giả. Nhưng những giây phút đó thường không kéo dài, bất cứ lúc nào, một quả đạn pháo cũng có thể bay đến chiến hào, nơi họ đang quây quần bên nhau, và phút chốc biến nó thành mồ chôn tập thể của họ. Chỉ trong giây lát, bầu không khí u ám quay về với tác phẩm (tôi khâm phục khả năng biến chuyển nhịp nhàng, tài tình của tác giả)

“Thật lạ khi nhìn những kẻ thù của chúng tôi gần đến thế. Họ có những gương mặt khiến ta phải suy nghĩ, những gương mặt nông dân chất phác….. Họ có tình người hơn, và tôi gần như tin rằng họ đối xử với nhau có tình huynh đệ hơn là chúng tôi…. Cuộc đời họ là vô danh và chẳng tội tình gì….. Một mệnh lệnh đã làm những hình thù lặng lẽ kia trở thành kẻ thù của chúng tôi….. Vậy mà chúng tôi vẫn sẽ lại bắn họ, cũng như họ sẽ bắn chúng tôi, nếu như họ được tự do….”. Đây là dòng suy nghĩ của Paul – nhân vật chính trong tác phẩm và dĩ nhiên, là một người lính Đức, khi anh chứng kiến những tù binh Nga đang thoi thóp cầu xin chút thức ăn. Ai đã đọc “Chuông nguyện hồn ai” của cụ Hemingway chắc hẳn sẽ còn nhớ ông cụ Anselmo cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy khi nhìn thấy những tên phát-xít, kẻ thù không đội trời chung của mình: “….chỉ có những mệnh lệnh chia rẽ chúng ta. Những người đó không phải là phát-xít, họ cũng là người nghèo như chúng ta….”. Và Paul, cậu thanh niên 19 tuổi, cũng như Robert Jordan – một giảng viên đại học, giữa mưa bom biển đạn, khi mạng sống như chỉ mành treo chuông, vẫn mang trong mình một khát khao cháy bỏng, khát khao được sống để kể lại sự thật, để gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh cho thế hệ mai sau biết được sự tàn khốc, sự phi lý của chiến tranh: “Chưa phải thời điểm thích hợp; nhưng tôi không muốn để vuột mất ý nghĩ này, tôi muốn gìn giữ nó, tiếp tục gìn giữ nó cho đến khi chiến tranh kết thúc….”

Thế chiến thứ Nhất kết thúc vào ngày 11/11/1918, gần 20 triệu người chết, tức 20 triệu gia đình tan vỡ, hàng triệu người mẹ mất con, người vợ mất chồng, người con mất cha. Không kể hàng chục triệu binh sĩ khác phải mang thương tật vĩnh viễn, số người may mắn còn sống sót và lành lặn trở về, liệu họ thể hòa nhập trở lại với cuộc sống thường nhật hay không? Chắc không ít bạn đã từng nghe nói đến “Hội chứng Việt Nam”, căn bệnh kinh hoàng gây ám ảnh cho hàng loạt cựu binh Mỹ (con số lính Mỹ tự sát vì chứng bệnh này thậm chí còn lớn hơn số lính Mỹ đã bỏ mạng trên chiến trường Việt Nam). Và sự thật là chính phủ Mỹ chẳng làm được gì để giúp đỡ họ, ngoài vài cái huân chương, hay vài khoản trợ cấp. Không gì có thể cứu chữa được họ, chiến tranh đã gặm nát tâm hồn họ. Hằng ngày, hằng ngày tận mắt thấy đồng đội phải chịu những đau đớn, những cái chết khủng khiếp, thi thể không toàn vẹn. Và trong phút giây không kiểm soát được bản thân, chính họ cũng gây ra những cái chết khủng khiếp tương tự cho kẻ thù, hay cho những người dân vô tội. Giết! Giết! Giết! Những ánh mắt tha thiết, van xin được cứu sống, những ánh mắt bừng bừng lửa căm hận nhìn xoáy vào tim họ. Tôi chỉ đọc sách mà còn cảm thấy ám ảnh tột cùng, thật sự không thể nào tưởng tượng được nếu phải chứng kiến cảnh tượng đó hằng ngày, hằng giờ. Đòi hỏi một người mang tâm hồn đã chết hòa nhập với thế giới đang sống, chỉ đơn giản là không thể.

Bạn nào có chút quan tâm có lẽ đều biết những nguyên nhân sâu xa dẫn đến Thế chiến thứ Nhất, trong số đó, chắc chắn chẳng có thứ gì thực sự gọi là tinh thần dân tộc cả. Chủ nghĩa dân tộc chỉ là sự giả dối, là trò lừa thế kỷ của một số ít những tên độc tài. Thế giới với họ là một miếng bánh, còn chúng ta, những nông dân, những nhà giáo, bưu tá, thợ đóng giày, những con người chỉ mong vun đắp một cuộc sống bình dị, lại trở thành quân cờ bị họ lợi dụng nhằm tranh giành miếng bánh đó. Có lẽ bây giờ ai cũng hiểu được đây là một cuộc chiến phi nghĩa, vì tham vọng của một vài người mà gây cảnh tang thương, mất mát cho hàng chục triệu con người khác. Nhưng cái khiến tôi khâm phục Remarque chính là vì ông dám viết nên sự thật ngay tại thời điểm đó, dẫu biết rằng rất có thể những hậu quả kinh khủng đang chờ đợi ông phía sau. Và dĩ nhiên, tôi còn khâm phục ông bởi giọng văn nhẹ nhàng, tha thiết và đầy biến hóa, lồng ghép trong đó là những suy tư, trăn trở của một người lính nơi chiến trường, lối mô tả chân thực đến rợn người, qua đó phơi bày lên hết thảy sự nghiệt ngã, bất công, phi lý của chiến tranh.

Đọc xong tác phẩm này, tôi chỉ có thể nói rằng: Thế giới biết ơn ông và nước Đức nợ ông một lời xin lỗi. 

Steven Nguyễn

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s